Trạm BTS thân thiện với môi trường, góp phần làm đẹp đô thị

(LĐTĐ) Với thiết kế hiện đại, tích hợp nhiều chức năng trên cùng một diện tích sử dụng, các trạm BTS thân thiện với môi trường đã và đang được nhiều người đánh giá cao về hình thức cũng như những tiện ích mà các trạm BTS này mang lại cho người dân và bộ mặt đô thị của thành phố.  

Trạm BTS lắp đặt trên nóc nhà dân và trạm BTS lắp đặt trên phố có sự khác biệt về hình thức mặc dù có cùng chức năng. Ảnh: P.Thắng.

Do nhu cầu sử dụng mạng viễn thông của người dân ngày một tăng cao, đã khiến cho các nhà mạng trong những năm gần đây liên tục phải nâng cấp và mở rộng hệ thống cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu phát triển. Vì vậy số lượng các trạm BTS đã tăng dần qua từng năm.

Tại các khu dân cư, tình trạng có tới 2, 3 trạm BTS của các nhà mạng khác nhau trong cùng một khu vực là khá phổ biến. Các trạm BTS này thường lắp đặt trên nóc các nhà dân, tầng thượng các tòa nhà. Điều này không chỉ làm xấu đi cảnh quan đô thị mà còn gây nhiều khó khăn cho khâu quản lý cũng như ảnh hưởng đến sự an toàn của người dân.

Bên cạnh hệ thống các trạm BTS, hiện nay trên các vỉa hè của nhiều tuyến phố vẫn còn tồn tại các loại cột điện, cột chiếu sáng, cột biển báo giao thông… cùng tồn tại đã dẫn đến sự chồng chéo, ảnh hưởng đến không gian chung. Thực trạng này đặt ra vấn đề, làm sao để các công trình viễn thông phải có sự kết nối đồng bộ để phù hợp với hạ tầng, tạo nên vẻ đẹp văn minh đô thị.

Trong những năm qua, để cải thiện bộ mặt cảnh quan đô thị, thành phố đưa ra nhiều chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng hạ tầng gắn với bảo đảm cảnh quan môi trường. Chính vì điều này mà các nhà mạng đã tiến hành xây dựng thí điểm hàng loạt các trạm BTS thân thiện với môi trường, kết hợp biển báo thông tin đa năng tại Hà Nội và đã được thành phố thông qua.

Với việc tích hợp nhiều chức năng trên cùng một cột của các trạm BTS thân thiện với môi trường đã được nhiều người dân đánh giá cao. Ảnh: P.Thắng.

Sau hơn hai năm triển khai, đến nay hệ thống trạm BTS thân thiện với môi trường này đã mang lại kết quả khả quan và được nhiều chuyên gia đánh giá là đáp ứng được các yêu cầu về tính thẩm mỹ và các tiện ích đi kèm.

Việc tích hợp trên thân cột hệ thống giá đỡ treo các biển thông tin, vừa che các tủ thiết bị bên trong, vừa quảng bá tình hình kinh tế xã hội của các địa phương. Phần lắp đặt ăng ten theo tiêu chuẩn mới nhỏ, gọn, cách điệu hình lá sen; phần hệ thống đèn LED chiếu sáng; trạm phát wifi; bảng thông tin tuyên truyền về tình hình kinh tế – xã hội của thành phố; Bên dưới là bốt du lịch tích hợp bản đồ địa lý, bản đồ các tuyến xe buýt phục vụ nhân dân và du khách tra cứu tìm hiểu thông tin… đã góp phần nâng cao chất lượng cảnh quan tại các điểm lắp đặt.

Những trạm BTS mới được triển khai lắp đặt không chỉ giúp người dùng truy cập sóng 3G, 4G mạnh hơn, mà còn thân thiện với môi trường. Ngoài ra, trạm BTS mới được đánh giá cao trong việc cải thiện không gian đô thị theo hướng văn minh, hiện đại khi địa điểm xây dựng là tại các vườn hoa, công viên… So với các trạm BTS cũ, trạm BTS mới có kiến trúc đẹp và an toàn hơn. Đồng thời, việc đặt trạm BTS ở khu vực công cộng cũng giúp giảm được ảnh hưởng của sóng di động đến sức khỏe người dân.

Có thể nói, đây là một mô hình phát triển vừa hiện đại, vừa đáp ứng cảnh quan môi trường, đồng thời giúp giảm bớt tình trạng các trạm BTS mọc trên nóc các nhà dân. Điều này không chỉ mang lại nhiều tiện ích, tạo điểm nhấn cho đô thị, mà còn giảm thiểu các nguy cơ hư hỏng trong những mùa mưa bão.

Theo Lao động thủ đô

Ô nhiễm không khí: Vấn đề không của riêng ai

Ô nhiễm không khí trở thành đề tài “nóng” hơn bao giờ hết khi đang ngày càng trở nên nghiêm trọng và ảnh hưởng tới gần như tất cả các khu vực trên thế giới.

Ô nhiễm không khí tại Bắc Kinh, Trung Quốc (Ảnh: EPA)

Ô nhiễm không khí được coi là một kẻ giết người vô hình và thầm lặng. Năm 2016, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính rằng ô nhiễm không khí bên ngoài và ô nhiễm không khí là “thủ phạm” gây ra 7 triệu ca tử vong sớm mỗi năm trên toàn cầu.

Không khí ô nhiễm tồn tại xung quanh chúng ta và rất khó để tránh khỏi. Nồng độ khói bụi nhìn thấy được trong không khí không thể phản ánh được mức độ trong lành của môi trường sống. Trên khắp thế giới, môi trường ở cả thành phố hay vùng quê đều có các chất ô nhiễm độc hại trong không khí vượt quá giá trị chất lượng không khí trung bình WHO khuyến nghị là tối đa 25 microgam/m3. Ước tính, 91% dân số toàn cầu hiện đang sống ở những nơi có không khí ô nhiễm.

Ảnh hưởng sâu rộng

Trước đây, khi nói đến ô nhiễm không khí, chúng ta chỉ thường nghĩ đến các quốc gia đang phát triển và có dân số đông như Trung Quốc, Ấn Độ… Thế nhưng, hiện nay, đến những quốc gia phát triển, nhất là tại các khu đô thị lớn đều là nạn nhân của ô nhiễm không khí. Theo dữ liệu mới nhất của WHO, 97% thành phố ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình với hơn 100.000 dân không đáp ứng các tiêu chuẩn về không khí của WHO. Với các nước có thu nhập cao, tỷ lệ giảm xuống 49%.

Một thống kê đầu năm nay của Liên hợp quốc đã chỉ ra rằng, bảy trong số 10 thành phố ô nhiễm nhất thế giới nằm ở Ấn Độ. Theo Tổ chức Giám sát chất lượng không khí AirVisual và Tổ chức Hòa bình xanh (Greenpeace), thì vào năm 2018, Gurugram là thành phố có mức độ ô nhiễm nặng nhất thế giới. Tổng cộng 18 trong số 20 thành phố ô nhiễm nhất trên thế giới thuộc về các nước Nam Á.

Thủ đô Tehran (Iran) ngày 15/12 phải đóng cửa tất cả trường học trong vài ngày do mức độ ô nhiễm quá cao. Tại Australia, khói từ hơn 150 đám cháy hoành hành ở cả bờ Đông và bờ Tây đã bủa vây lấy thành phố Sydney, khiến chất lượng không khí nơi đây xuống thấp trầm trọng.

Châu Âu không phải ngoại lệ. Năm 2017, Bulgaria là nước thành viên đầu tiên của Liên minh châu Âu (EU) bị tòa án châu Âu kết tội không tuân thủ các quy định về đảm bảo chất lượng không khí. Ô nhiễm không khí là vấn đề được nhắc đến từ cả gần 100 năm nay qua tại Anh. London luôn là một trong những thành phố ô nhiễm nhất châu Âu dù đã có nhiều giải pháp tiếp cận khắc phục vấn đề này từ lâu.

Đi tìm nguyên nhân

Theo WHO, 6 chất chính gây ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến sức khỏe con người bao gồm: Oxit nitơ (NOx), Oxit lưu huỳnh (SOx), Carbon monoxit (CO), Chì, Ozon tầng mặt đất, Các hạt vật chất khí quyển lơ lửng. Chất gây ô nhiễm có thể có nguồn gốc tự nhiên hoặc do con người tạo ra. Chất gây ô nhiễm được phân loại sơ cấp và thứ cấp. Các chất gây ô nhiễm sơ cấp thường được phát thải từ các quá trình như tro từ phun trào núi lửa, hay hoạt động sản xuất.

Trong số đó, các hạt bụi mịn với kích thước nhỏ hơn 2,5 micron (PM 2.5) đáng được bận tâm nhất, vì chúng có khả năng xâm nhập sâu vào phổi, làm gia tăng nguy cơ nhiễm các bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí, gồm nhiễm trùng đường hô hấp dưới cấp tính, đột quỵ, đau tim, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và ung thư phổi.

Đâu là giải pháp?

Trước tình hình này, WHO cho rằng, các quốc gia cần phải có cam kết mạnh mẽ hơn trong việc cải thiện chất lượng không khí, cần tăng cường năng lực hệ thống theo dõi, giám sát chất lượng không khí và chia sẻ thông tin, số liệu với công chúng; tăng cường các biện pháp khẩn cấp để giảm thiểu phát thải khí trong giai đoạn ô nhiễm không khí vượt quá mức khuyến cáo của WHO; các nguồn ô nhiễm không khí cần được xác định thấu đáo và cần xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch dài hạn nhằm đảm bảo không khí sạch.

Có rất nhiều ví dụ về các chính sách thành công giúp giảm ô nhiễm không khí được WHO đưa ra là các công nghệ sạch nhằm giảm phát thải khí công nghiệp; cải thiện quản lý chất thải đô thị và nông nghiệp, bao gồm thu hồi khí mê tan thoát ra từ bãi thải để thay thế phương án đốt rác thải (sử dụng khí sinh học); đảm bảo tiếp cận các giải pháp năng lượng sạch tại hộ gia đình và có thể chi trả được để đun nấu, sưởi ấm và chiếu sáng. Một giải pháp nữa là ưu tiên phương tiện vận chuyển đô thị tốc độ cao, các mạng lưới đi bộ và đi xe đạp trong thành phố, cũng như vận chuyển hàng hóa và hành khách bằng đường sắt giữa các đô thị.

Cùng với đó, chuyển đổi sang các phương tiện chạy dầu diezel sạch hơn và các phương tiện ít phát thải và nhiên liệu sạch hơn, bao gồm nhiên liệu có hàm lượng lưu huỳnh thấp; cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng của các tòa nhà và làm cho thành phố xanh hơn, kết cấu chặt chẽ hơn, dẫn đến hiệu quả sử dụng năng lượng lớn hơn; tăng việc sử dụng các nhiên liệu ít phát thải và các nguồn năng lượng không đốt, có thể tái tạo được (như năng lượng mặt trời, năng lượng gió và thủy điện); kết hợp sản xuất nhiệt và điện; và phát điện phân phối (ví dụ, điện lưới nhỏ và phát điện mặt trời trên mái nhà)…

Ô nhiễm không khí ảnh hưởng tới tất cả chúng ta và các chính phủ cần thực hiện vai trò trong việc kiểm soát phát thải khí một cách quyết liệt. Chính phủ, xã hội dân sự và các cơ quan đối tác quốc tế cần phối hợp với nhau để tìm ra các giải pháp trung hạn và dài hạn để phòng ngừa ô nhiễm không khí ngay từ nguồn. Bây giờ chính là lúc cần hành động quyết liệt vì không khí sạch và vì sức khỏe cộng đồng.

Theo Báo quốc tế

Chủ tịch Hà Nội ra chỉ thị khẩn khắc phục ô nhiễm không khí

Chủ tịch UBND TP Hà Nội vừa ký ban hành chỉ thị về các giải pháp khắc phục, hạn chế ô nhiễm, cải thiện chỉ số chất lượng không khí (AQI) trên địa bàn. 

Hà Nội hứng chịu 6 đợt ô nhiễm không khí trong năm 2019

Tình trạng ô nhiễm không khí, đặc biệt trong những ngày vừa qua xuất hiện nhiều dạng thời tiết cực đoan (mây mù dày đặc, nhiệt độ xuống thấp và nghịch nhiệt), dẫn đến AQI của TP ở mức xấu và rất xấu, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. 

Để khắc phục tình trạng trên, Chủ tịch UBND TP Hà Nội yêu cầu các đơn vị liên quan thực hiện các biện pháp cấp bách, quyết liệt để giảm thiểu nguồn phát sinh khí thải độc hại, bụi mịn tác động tiêu cực đến chất lượng môi trường không khí.

Chủ tịch UBND TP Hà Nội yêu cầu Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo Chi cục Bảo vệ môi trường vận hành liên tục ổn định hệ thống quan trắc môi trường không khí, thường xuyên tổng hợp kết quả thông báo công khai các số liệu ô nhiễm không khí để người dân biết, có kế hoạch phòng tránh.

Trong trường hợp ô nhiễm không khí chạm mức nguy hại (chỉ số AQI  lớn hơn 300), Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thông báo tới Sở Giáo dục và Đào tạo để chỉ đạo các trường mầm non, trường tiểu học sắp xếp lịch học phù hợp; Sở Y tế có các biện pháp bảo vệ sức khỏe nhân dân, phòng ngừa bệnh về đường hô hấp; sở ngành liên quan có các biện pháp xử lý, khắc phục hạn chế phát thải.

Với những ngày không khí ở mức kém trở lên, UBND TP Hà Nội yêu cầu Sở Xây dựng chỉ đạo, các Công ty Môi trường đô thị cùng các quận, huyện rà soát kiểm tra, tăng cường tần suất sử dụng xe hút bụi, hút rác và dùng xe tưới nước rửa đường.

Sở Giao thông vận tải và Công an thành phố tăng cường lực lượng điều tiết giao thông, tránh ùn tắc trong giờ cao điểm, yêu cầu tất cả các xe tải trọng tải từ 1,5 tấn trở lên chỉ được đi vào TP từ vành đai 3 trở vào từ 22h đến 6h sáng ngày hôm sau.

Công an thành phố, Thanh tra chuyên ngành tăng cường kiểm tra xử lý nghiêm tất cả các xe chở vật liệu xây dựng, phế thải xây dựng không đúng quy chuẩn, không phủ bạt che chắn, chở quá tải, để rơi vãi ra đường gây mất an toàn, vệ sinh môi trường.

Act Green KHÁNH NGUYỄN

Béo phì cũng là ‘thủ phạm’ gây biến đổi khí hậu

Các nhà khoa học vừa tuyên bố tình trạng béo phì là một nguyên nhân khiến cuộc chiến chống biến đổi khí hậu thêm khó khăn phức tạp, nhất là trong bối cảnh mỗi năm dân số thế giới lại tăng thêm khoảng 83 triệu người.

Những người béo phì gây ra mức khí thải vào môi trường nhiều hơn 20% so với mức khí thải người bình thường do sự tổng hợp chuyển hóa chất nhiều hơn, dẫn đến sản sinh ra nhiều khí thải (carbon dioxide) hơn và lượng khí thải cũng tăng thêm do họ tiêu thụ nhiều đồ ăn thức uống, chưa kể tới lượng khí thải xả ra từ các phương tiện vận tải sử dụng nhiên liệu hóa thạch.

Người béo phì tại Gaithersburg, bang Maryland, Mỹ. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Theo tờ New York Post số ra ngày 26/12, kết quả nghiên cứu được các nhà khoa học công bố gần đây cho thấy tình trạng béo phì trên toàn cầu tạo ra thêm 700 triệu tấn khí thải mỗi năm, tương đương 1,6% của toàn bộ lượng khí thải ước tính xả ra trên Trái Đất.

Trung tâm kiểm soát dịch bệnh của Mỹ đã gọi béo phì là “dịch bệnh” bởi đó chính là nguyên nhân gây ra tỷ lệ cao các bệnh tim mạch, đột quỵ, tiểu đường và một số loại ung thư.

Tác giả bài báo công bố trên tạp chí khoa học có tên Hiệp hội Béo phì (Obesity Society), Giáo sư Faidon Magkos thuộc ĐH Copenhagen của Đan Mạch, khẳng định kết quả nghiên cứu cho thấy việc tăng cường kiểm soát tình trạng béo phì sẽ không chỉ giúp con người vận động nhanh nhẹn, mang lại những hiệu quả lợi ích về tiết kiệm chi phí y tế cũng như giảm tỷ lệ tử vong mà còn giúp giảm bớt những ảnh hưởng tiêu cực lên môi trường sống.

Các nhà khoa học cũng cho rằng kết quả nghiên cứu không nhằm kỳ thị những người quá cân bởi người béo phì vốn đã hay vấp phải thái độ thiếu thiện cảm của những người khác. Ngược lại, nghiên cứu nhằm chỉ ra rằng con người sẽ phải trả giá đắt nếu không chú trọng để những người có vấn đề về cân nặng được tiếp cận y tế và chữa trị một cách dễ dàng.

Thực ra, hoạt động thể chất cũng sản sinh ra nhiều khí thải hơn nếu so với việc con người nghỉ ngơi nhưng không ai kỳ thị người chăm tập thể dục cho dù việc đó có ảnh hưởng môi trường đi nữa, giáo sư Boyd Swinburn thuộc ĐH Auckland, New Zealand, cho biết.

TTXVN/ Báo Tin tức

Sâu bột giải quyết vấn đề rác thải nhựa

Dù có kích thước nhỏ bé, những chú sâu bột đang nắm giữ giải pháp tiềm năng cho vấn đề nhựa thải đang ngày một nghiêm trọng.

Không chỉ hấp thụ được nhiều loại nhựa khác nhau, theo như một nghiên cứu mới đây của Stanford đăng tải trên tờ Environmental Science & Technology, chúng còn tiêu hóa được Styrofoam, một chất có chứa thành phần phụ gia độc hại, mà vẫn có thể trở thành nguồn thức ăn an toàn, giàu protein cho các loài động vật khác.

Đây là nghiên cứu đầu tiên xem xét các chất hóa học trong nhựa đi về đâu sau khi được phân hủy theo cơ chế tự nhiên – mà trong trường hợp này là ruột của sâu bột (mealworm).

Tiến sĩ Anja Malawi Brandon, tác giả chính của nghiên cứu cho biết: “Thật đáng kinh ngạc khi biết được sâu bột có thể tiêu hóa được phụ gia hóa chất trong nhựa mà không gây tác động xấu nào đến cơ thể qua thời gian”.

Các nghiên cứu trước đây cũng đã chỉ ra rằng sâu bột, loài sâu dễ nuôi và được sử dụng rộng rãi làm thức ăn cho nhiều loài động vật, có thể sống nhờ vào việc ăn nhựa. Các nhà nghiên cứu tìm ra các vi sinh vật trong ruột sâu bột phân hủy nhựa trong quá trình tiêu hóa. Đây là một phát hiện đáng ngạc nhiên và đầy hứa hẹn. Tuy nhiên, vẫn có những lo ngại về việc cho động vật ăn sâu bột ăn nhựa vì các chất hóa học và phụ gia có hại vẫn có thể tích tụ trong sâu theo thời gian.

Hình minh họa. (Nguồn:CC0 Public Domain)

Tiến sĩ Brandon Wu và các đồng nghiệp đã nghiên cứu về chất Styrofoam hay còn gọi là polystyrene, một loại nhựa được sử dụng rộng rãi trong khâu đóng gói và sản xuất chất liệu cách nhiệt. Việc tái chế styrofoam rất tốn kém, do mật độ kết cấu thấp và cồng kềnh.

Trong chất này còn chứa một loại phụ gia làm chậm cháy là hexabromocyclododecane, hay HBCD, cũng thường được thêm vào nhựa polystyrene để chống cháy.

Chỉ riêng vào năm 2015, đã có gần 25 triệu tấn hóa chất phụ gia được sử dụng trong sản xuất nhựa. Một số chất tương tự như HBCD có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và môi trường, được coi như các chất gây rối loạn nội tiết và đầu độc hệ thần kinh. Bởi vậy, Liên minh Châu Âu đã lên kế hoạch cấm HBCD, trong khi Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kì cũng đang đánh giá lại mức độ nguy hiểm của nó.

Trong thí nghiệm, sâu bột đã thải ra một nửa chỗ polystyrene chúng hấp thụ được dưới dạng các mảnh nhỏ, phân hủy bán phần, phần còn lại thì ở dạng khí CO2. Chúng chỉ mất 24 giờ để thải ra 90% HBCD đã hấp thụ và hoàn toàn thải hết sau 48 giờ. Sâu bột được nuôi theo chế độ ăn nhựa chứa chất HBCD thường xuyên vẫn có tình trạng sức khỏe tương tự như những con bình thường. Những con tôm được cho ăn loại sâu bột này cũng hoàn toàn khỏe mạnh. Nhựa có trong ruột sâu bột đóng vai trò quan trọng trong việc tích lũy và loại bỏ chất HBCD.

Các nhà khoa học công nhận rằng sử dụng HBCD thải ra từ sâu bột vẫn là một chất có hại, cũng như không phải phụ gia nhựa nào cũng có thể áp dụng phương pháp tương tự.

Trong khi hi vọng sử dụng sâu bột để giải quyết vấn đề nhựa thải, các nhà khoa học vẫn lưu ý rằng biện pháp tốt nhất về lâu dài chỉ có thể là việc tìm ra vật liệu thay thế dễ phân hủy và hạn chế sử dụng các sản phẩm dùng 1 lần.

Theo phys.org)/Tạp chí Khoa học & Phát triển

Việt Nam sản xuất túi nylon tự hủy thành… nước

Chỉ trong vòng chưa tới 3 năm, túi sẽ phân hủy thành nước và khí CO2, dễ dàng thẩm thấu dưới đất, đem lại dinh dưỡng cho cây trồng.

Tại Việt Nam, dù có nhiều loại sản phẩm từ nhựa, nhất là túi nylon được công bố là phân hủy sinh học, nhưng thực chất chỉ là quá trình bẻ gãy sinh học. Quá trình bẻ gãy sinh học khác hoàn toàn với phân hủy sinh học, chỉ là sự lão hóa đến tan rã của các mạch nylon mà không phân hủy hoàn toàn. Hậu quả là để lại trong đất, nước những mảnh vụn của nylon, gây ô nhiễm đất, nước, nhất là cản trở vi sinh vật phát triển, làm cho đất nhanh chóng bạc màu, không tơi xốp.

Bên cạnh đó, việc tận dụng nguồn nhựa phế thải kết hợp với công nghệ phân hủy oxo-degradable để sản xuất các sản phẩm hữu ích hầu như chưa được quan tâm. Các cơ sở tái chế nhựa phế thải ở một số làng nghề chủ yếu là tự phát, thiếu quy hoạch với những thiết bị và công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ người dân ở khu vực xung quanh.

Từ nhu cầu đó, Viện Hóa học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã thực hiện đề tài Nghiên cứu công nghệ sản xuất túi đựng rác tự hủy từ nhựa phế thải”. Đề tài do TS. Nguyễn Trung Đức làm chủ nhiệm, được thực hiện từ năm 2017-2018 và mới đây đã được nghiệm thu loại xuất sắc.

Trước đó, nhóm nghiên cứu đã tổng hợp thành công chất phụ gia xúc tiến oxy hóa (gồm muối và hợp chất kim loại). Loại chất độn này giúp nhằm phá vỡ cấu trúc ban đầu của nhựa phế thải, khiến các liên kết carbon bị yếu đi.  

Thiết bị đùn thổi màng một trục vít series SJ-45 của Nhật được sử dụng trong quá trình sản xuất túi đựng rác tự hủy. Ảnh: Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Để sản xuất loại túi nylon này, các nhà khoa học đã nghiên cứu kỹ tính chất nhựa HDPE – loại  nhựa phế thải phổ biến ở Việt Nam khi thải trực tiếp ra môi trường sẽ vô cùng độc hại. Nhựa này được xử lý, trộn đều với chất phụ gia nói trên. Tiếp đến là công nghệ đùn thổi, ép, kéo… tạo thành túi đựng. Túi này sau sử dụng, thải ra môi trường có thể tự phân hủy.

So với các loại túi nylon trên thị trường, túi phân hủy của nhóm nghiên cứu bền chắc hơn, độ co dãn tăng 5,06%. Để thử nghiệm độ phân hủy, nhóm nghiên cứu đã chôn mẫu túi xuống một vườn đất ở Phú Thọ, sau 12 tháng túi đã phân hủy 70 -100% khối lượng. Thời gian túi phân hủy chưa tới 3 năm tùy thuộc vào độ dày của túi.

TS Nguyễn Trung Đức, Trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết túi không phân hủy thành những mảnh nhỏ như các loại túi nhựa khác mà chuyển hóa thành nước và khí CO2, dễ dàng thẩm thấu dưới đất, đem lại dinh dưỡng cho cây trồng. Nếu được ngâm trong bùn hoạt tính và môi trường phân trộn, thời gian phân hủy của túi sẽ rút ngắn xuống 7-8 tháng. 

Ngày 28/5/2018 sản phẩm túi đựng rác tự hủy được Tổng cục Môi trường – Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận túi ni lông thân thiện môi trường số 74/CN-TCMT. Nhóm nghiên cứu cũng đã nộp hồ sơ đăng ký giải pháp hữu ích cho quy trình sản xuất hạt nhựa tự hủy từ hạt nhựa phế thải và bao bì tự hủy làm từ hạt nhựa tự hủy.

Hiện nay, nhóm nghiên cứu đã kết hợp với công ty TNHH Công nghệ và Dịch vụ thương mại Lạc Trung (Hà Nội) để sản xuất đồng bộ túi phân hủy từ nhựa phế thải với công suất 30 kg/giờ. Nhờ việc áp dụng công nghệ hiện đại, các loại túi được sản xuất với độ dày khác nhau, dùng để đựng vật phẩm thô, nặng và cả phục vụ sinh hoạt hàng ngày. So với túi nylon thông thường, túi tự phân hủy có giá cao hơn. 

Ảnh chụp quá trình chôn mẫu trong đất, Địa điểm chôn mẫu: Xã Hương Lung, Cẩm Khê, Phú Thọ(a): chuẩn bị mẫu đất và túi, (b): cho đất và mẫu vào túi, (c): Chôn các túi mẫu xuống rãnh, (d): Lấp các rãnh đất. Ảnh: Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Theo đánh giá của các nhà khoa học, kết quả nghiên cứu đã mở ra triển vọng tận dụng lượng nhựa phế thải đang gây ô nhiễm môi trường để sản xuất sản phẩm hữu ích, đồng thời, góp phần thực hiện chủ trương sản xuất sản phẩm thân thiện môi trường, thay thế cho sản phẩm truyền thống. Trên cơ sở công nghệ, thiết bị đã được xây dựng trong đề tài, có thể ứng dụng ngay để sản xuất các túi phân hủy sinh học cho các lĩnh vực khác, như bao gói thực phẩm, đóng gói thuốc…

Nhóm nghiên cứu cũng kiến nghị Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho phép triển khai dự án sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện sản phẩm, tạo ra các mẫu mã, lựa chọn thời gian phân hủy để phù hợp cho các mục đích sử dụng khác nhau. Đồng thời, để sản phẩm sớm được ứng dụng hiệu quả trong cuộc sống, Nhà nước cần có giải pháp đồng bộ, như hỗ trợ sản xuất; tuyên truyền, hỗ trợ người dân tiếp cận, sử dụng sản phẩm túi phân hủy sinh học. Bởi do chi phí sản xuất của túi nylon tự phân hủy luôn cao hơn túi thông thường, cho nên nếu không có chính sách hỗ trợ, sản phẩm khó có thể được sử dụng rộng rãi trong nhân dân.

Theo khampha.vn

10 sáng kiến của Ấn Độ nhằm chống lại tình trạng ô nhiễm không khí

Khí thải từ các phương tiện, các ngành công nghiệp, bụi từ công trường xây dựng, khói từ hoạt động đốt rác và rơm rạ đã góp phần tạo nên cuộc khủng hoảng về ô nhiễm không khí.

Từ bán oxy cho đến mưa nhân tạo, nhiều ý tưởng và sáng kiến đã được đề ra trong năm 2019 nhằm chống lại cuộc khủng hoảng ô nhiễm không khí tại Ấn Độ.

New Delhi bị xem là thủ đô có không khí ô nhiễm nhất. (Nguồn: Reuters)

Theo đánh giá của IQ AirVisual – một tổ chức chuyên đánh giá chất lượng không khí toàn cầu có trụ sở tại Thụy Sĩ – và tổ chức Greenpeace, Ấn Độ hiện có tới 15-20 thành phố ô nhiễm nhất thế giới, trong đó New Delhi bị xem là thủ đô có không khí ô nhiễm nhất.

Theo đó, một vùng lãnh thổ rộng lớn ở miền Bắc Ấn Độ, trong đó có New Delhi với khoảng 20 triệu dân, đã bị chìm trong làn khói độc hại vào mùa Đông.

Khí thải từ các phương tiện, các ngành công nghiệp, bụi từ công trường xây dựng, khói từ hoạt động đốt rác và rơm rạ đã góp phần tạo nên cuộc khủng hoảng về ô nhiễm không khí.

Sau đây là một số biện pháp mà nhà chức trách, các kỹ sư và các công ty Ấn Độ đã tìm cách giúp người dân nước này có thể hít thở không khí trong lành hơn:

Quán bar oxy

Để hít thở không khí sạch, người dân New Delhi có thể đến Oxy Pure, một quán bar cung cấp dịch vụ hít thở oxy trong 15 phút chỉ với giá 7 USD và với 7 mùi hương khác nhau như oải hương, sả, quế và bạc hà.

Quán bar Oxy Pure ở New Delhi, Ấn Độ. (Nguồn: Gulf Times)

Tuy nhiên, đây không phải là mức giá dễ chịu tại một quốc gia mà trung bình mỗi người chỉ chi tiêu 1,8 USD/ngày.

Lon không khí sạch

Khi mức ô nhiễm đã lên mức nguy hiểm, người dân Ấn Độ có thể lên mạng và đặt mua lon không khí.

Một số công ty như Vitality Air tại Canada, Pure Himalayan Air của Ấn Độ, đã bán không khí sạch trong chiếc lon có dung tích 10l với mức giá từ 550 rupee (7,7 USD) đến 5.400 rupee (75 USD). Ước tính trung bình mỗi người trưởng thành hít thở khoảng 8l không khí/phút.

Máy lọc không khí cầm tay

Các bác sỹ từng nhận định chất lượng không khí tại New Delhi độc hại tương đương với việc hút 20 điếu thuốc lá/ngày.

Do đó, với những ai không muốn giam mình trong nhà vào những ngày khói mù, một chiếc máy lọc mini có thể đeo trên người AirTamer chính là câu trả lời.

Chiếc máy lọc mini có thể đeo trên người AirTamer. (Nguồn: indianexpress)

Thiết bị có khối lượng 50gr này có thể đeo lên người giống như dây chuyền, phát ra các ion âm giúp đẩy lùi các chất gây ô nhiễm. Sản phẩm này được bán tại New Delhi với mức giá gần 10.000 rupee (140 USD).

Phân loại xe lưu hành theo biển số chẵn lẻ

Tháng 11 vừa qua, giới chức New Delhi đã hạn chế việc sử dụng xe cá nhân trong 2 tuần thông qua một hệ thống phân loại, trong đó cho phép xe chỉ hoạt động luân phiên theo ngày tùy theo đuôi biển số xe là chẵn hay lẻ.

Tuy nhiên, kế hoạch này đã không đạt được kế quả đáng kể. Các nhà môi trường đã hối thúc chính phủ hành động khẩn cấp nhằm chống lại tình trạng ô nhiễm không khí.

Nhà chức trách New Delhi đã cân nhắc việc sử dụng công nghệ đám mây do Viện Công nghệ Ấn Độ (IIT) phát triển nhằm tạo mưa và giảm mức ô nhiễm.

Tuy nhiên, kế hoạch này đã bị trì hoãn do không có máy bay hay đủ sự hỗ trợ công nghệ cần thiết để phát tán mây.

Lắp đặt tháp lọc không khí trên đường

Nhiều máy lọc không khí khổng lồ đã được lắp đặt tại các đoạn giao cắt đông đúc ở thủ đô New Delhi nhằm chống lại bụi bẩn trên đường và ô nhiễm từ khí thải của các phương tiện.

Tháng 11 vừa qua, tòa án tối cao Ấn Độ đã yêu cầu Chính phủ liên bang và chính quyền New Delhi lập các “tháp khói” giống như Trung Quốc. Những tháp này đóng vai trò là máy hút bụi khổng lồ.

Một thiết bị kiểm soát ô nhiễm không khítại New Delhi. (Nguồn: hindustantimes)

Tuy nhiên, các nhà môi trường cho rằng đây chỉ là biện pháp mang tính “chắp vá” do nó không giảm bớt được các hạt bụi siêu nhỏ có thể ngấm vào phổi và máu.

Cũng trong tháng 11, hai máy lọc không khí di động đã được trang bị tại đền Taj Mahal khi khói mù độc hại bao phủ lấy công trình có từ thế kỷ 17 này. Ô nhiễm đã khiến đá cẩm thạch trắng chuyển sang màu vàng và xanh.

Trạm xe buýt chống bụi bẩn

Nhằm cung cấp không khí sạch cho hành khách, một số trạm xe buýt tại New Delhi đã phủ những tấm nhựa dày, để tạo ra những căn phòng có không khí sạch.

Mặc dù vậy, nhiều người cho rằng điều này không thực sự thực tiễn khi người dân sẽ lại nhanh chóng ra đường và hít thở bụi bẩn.

Sản xuất mực từ chất gây ô nhiễm

Các kỹ sư IIT đã phát triển được Chakr Innovations, công nghệ có thể tận dụng khói thải ra từ các máy phát điện sử dụng diesel thông qua việc biến muội thành mực và sơn. Công nghệ này có thể hút được 90% chất gây ô nhiễm.

Công ty đã lắp đặt hơn 50 thiết bị như vậy trong các văn phòng chính phủ và doanh nghiệp nhà nước và các công ty phát triển bất động sản.

Theo Vietnamplus

Những thành phố sinh thái bậc nhất trên thế giới

   Tại nhiều quốc gia trên thế giới, các TP xanh không chỉ góp phần BVMT Trái đất, mà còn mang lại cuộc sống tốt đẹp cho cư dân sống tại đây.

   TP. Vancouver, Canađa

   Nằm ở bờ biển Thái Bình Dương của tỉnh British Columbia, Vancouver là TP lớn thứ ba và cũng là hải cảng quan trọng nhất của Canađa. Đây cũng là TP lý tưởng nhất để sống trên thế giới theo đánh giá của Tạp chí Econmomist (Anh) dựa trên các tiêu chí như cơ sở hạ tầng, hàng hóa, dịch vụ, mức độ an toàn…

   So với các TP khác có cùng quy mô, Vancouver được đánh giá cao trong việc kiểm soát lượng khí thải CO2 và duy trì chất lượng không khí, một phần nhờ sự quan tâm của TP trong việc thúc đẩy năng lượng xanh và ưu tiên phát triển thủy điện. Vancouver cam kết giảm lượng phát thải 33% vào năm 2020.

   Trong khi các TP khác đang tiếp tục mở rộng các con đường và gia tăng lượng xe cộ, Vancouver vẫn kiên trì theo đuổi cuộc sống đô thị bền vững. Trong đó, phải kể đến sự thay đổi trên đảo Granville, một bán đảo thân thiện dành cho người đi bộ, nơi có các chợ cộng đồng và các hoạt động nghệ thuật lớn.

   Nhiều khu phố khác ở Vancouver cũng rất thân thiện với môi trường, với nhiều tuyến đường xe đạp như Đại lộ số 10 phía Tây. Để BVMT, người dân thường xuyên sử dụng xe đạp, xe máy điện và xe đạp một bánh.

Một trong nhiều khu vườn tại TP. Vancouver

  TP. Curitiba, Braxin

   Việc quy hoạch đô thị thành công trong điều kiện nền kinh tế chưa phát triển ở Curitiba là bài học điển hình cho nhiều TP trên thế giới. Để BVMT, TP 3 triệu dân ở miền Nam Braxin đã sử dụng hệ thống xe buýt tốc hành hiệu quả lần đầu tiên trong những năm 1960. Với tinh thần sáng tạo, dám làm và dám chịu trách nhiệm trước dân chúng, những người lãnh đạo tại Curitiba đã giải quyết từng vấn nạn của đô thị, từ ngập lụt, rác thải, nhà ở xã hội tới bảo tồn di sản. Đây cũng là TP duy nhất của Nam Mỹ đạt mức trên trung bình về chỉ tiêu sinh thái trong bảng xếp hạng.

Vườn Bách thảo của TP. Curitiba

  TP. Cô-pen-ha-ghen, Đan Mạch

   Nhiều năm qua, Cô-pen-ha-ghen luôn được xếp loại là TP xanh bậc nhất châu Âu. Chính quyền TP đã đưa ra nhiều chính sách và kế hoạch BVMT nhằm thực hiện mục tiêu trở thành TP các-bon trung tính trước năm 2025. Đặc biệt, dự án công nghệ sạch đã thu hút sự tham gia của hơn 500 công ty. Ngoài ra, người dân Cô-pen-ha-ghen rất quan tâm tới vấn đề môi trường. Hệ thống cơ sở hạ tầng của TP được thiết kế phù hợp cho người dân đi bộ hoặc sử dụng xe đạp (hơn 50% người dân thường xuyên sử dụng xe đạp để đi lại). Các phương tiện giao thông công cộng cũng chỉ cách người dân trong bán kính khoảng 350m. Nhờ những biện pháp đó, Cô-pen-ha-ghen có lượng khí thải CO2 thấp hơn rất nhiều so với quy mô.

   Ngoài các con đường được thiết kế phong phú dành cho hoạt động đi bộ và chạy xe đạp, người dân Cô-pen-ha-ghen có ý thức cao trong việc tái chế rác thải và thói quen ủ phân hữu cơ, cũng như tiết kiệm điện, nhiệt. 

Cối xay gió ở TP. Copenhagen

  TP. San Francisco, Mỹ

   San Francisco được xếp loại là TP xanh nhất của Bắc Mỹ, với lịch sử lâu dài trong việc gìn giữ môi trường trước khi thành lập các nhóm môi trường chuyên nghiệp (Câu lạc bộ Sierra) vào thế kỷ 19. San Francisco có tỷ lệ tái chế rác thải vào bậc nhất thế giới, lên tới 77%, thông qua việc phân loại bắt buộc vật liệu tái chế và phân ủ từ thùng rác thông thường.

   Người dân TP rất quan tâm tới nguồn gốc và chất lượng thực phẩm, vì vậy họ ưu tiên sử dụng nguồn thực phẩm tại địa phương. Nhiều khu chợ được mở ra để phục vụ cho nhu cầu sử dụng nông sản địa phương, đặc biệt là các thực phẩm theo mùa.

Phân loại vật liệu tái chế tại một nhà hàng ở San Francisco

  TP. Cape Town, Nam Phi

Vịnh Camps, Cape Town

  Cape Town là TP lớn thứ hai của Nam Phi triển khai nhiều giải pháp BVMT như thúc đẩy tiết kiệm năng lượng và ưu tiên sử dụng các nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo. Bắt đầu từ năm 2008, Cape Town đã sử dụng năng lượng từ trang trại gió thương mại đầu tiên, nhằm đạt được 10% năng lượng tái tạo vào năm 2020.

   Những nỗ lực này đã tạo sự biến chuyển lớn trong TP, nhiều tuyến đường xe đạp được xây dựng, thị trường nông nghiệp phát triển, các thực phẩm, nguyên liệu chủ yếu được sản xuất tại địa phương.

   Người dân địa phương có ý thức “hướng tới tự nhiên” và thường xuyên sử dụng xe đạp để đi lại. Mặc dù, các trung tâm TP không có nhiều tuyến đường dành riêng cho xe đạp chuyên dụng, loại phương tiện này vẫn được người dân ưu tiên sử dụng để di chuyển trong TP thay cho ôtô.

   Nhà của nhiều người dân có hệ thống năng lượng mặt trời riêng và vườn rau xanh. Đặc biệt, TP đã thành lập Ủy ban Môi trường để đưa ra các hướng dẫn, cung cấp các sáng kiến trồng cây, phục hồi và bảo vệ, gìn giữ các không gian xanh.

Theo tạp chí Môi trường

Quá trình tái chế đơn giản, hiệu quả năng lượng cho pin Lithium-Ion

Pin Lithium-lon là  loại pin vốn làm đau đầu nhiều nhà khoa học vì kỹ thuật tái chế dòng pin này chưa thực sự hiệu quả. Mới đây, các nhà khoa học của Mỹ đã cho ra mắt quy trình tái chế mới chỉ cần một nửa năng lượng so với kỹ thuật thông thường và sản xuất những vật liệu âm cực sẵn sàng để sử dụng.

Không giống như những phương pháp tái chế hiện nay, phá vỡ cực âm thành những phần tử riêng biệt mà rồi lại cần ghép chúng lại một lần nữa, công nghệ mới tạo ra hợp chất mà đã sẵn sàng để đi vào một cục pin mới.

Phương pháp này sử dụng được trong pin lithium coban oxit dung trong máy tính xách tay và điện thoại thông minh, và trong pin phức hợp lithium-niken-mangan-coban có trong xe điện.

Pin lithium có cực dương được tạo ra từ than chì và cực âm được tạo ra từ lithium oxit kim loại, ở đó kim loại là một số kết hợp của coban, nikel, mangan và sắt. Ít hơn 5% pin lithium cũ được tái chế lại ngày nay. Bởi hàng triệu pin từ xe điện sẽ được thải ra trong thập kỷ tới, chúng ta sẽ thải ra các bãi rác thậm chí một núi lớn hơn nữa chất thải của pin dễ cháy, độc hại. 

Thêm nữa, những chất thải đó chứa những kim loại có giá trị. Có những mối quan tâm đáng kể rằng nguồn cung của kim loại quan trọng như coban và lithium đang suy giảm. Tái chế sẽ trở thành chìa khóa nếu chúng ta muốn bắt kịp nhu cầu về pin.

Một vài công ty, hầu hết ở Trung Quốc đã bắt đầu thực hiện việc tái chế pin. Ở Việt Nam hiện nay cũng bắt đầu xuất hiện những điểm tập kết pin để đem đi tái chế. Quy trình tiêu chuẩn yêu cầu nghiền pin, và sau đó hoặc làm chảy hoặc hòa tan pin trong axit. Đầu ra cuối cùng là những kim loại riêng biệt như coban, lithium, niken và mangan. Ngoài khi sử dụng một lượng năng lượng cường độ mạnh, phương pháp này phá hủy phần có giá trị nhất trong cực âm của pin, theo Zheng Chen, một giáo sư về kỹ thuật nano trường đại học California, San Diego.

“Vật liệu trong hình thức của những phần tử đẹp, được thiết kế tốt với một cấu trúc vi mô cụ thể quyết định hiệu suất của pin”, ông nói. “Rất nhiều kỹ thuật, năng lượng và thời gian được tận dụng để làm những cấu trúc này”.

Phương pháp đơn giản Chen và những đồng nghiệp của ông phát triển bảo tồn vi cấu trúc đó. Những nhà nghiên cứu ban đầu xoay vòng những tấm pin Lithium thương mại cho đến khi chúng đã mất một nửa khả năng lưu trữ năng lượng. 

Các nhà khoa học loại bỏ vật liệu âm cực từ chất nền nhôm của của chúng, và ngâm nó trong một bồn muối lithium nóng. Sau đó họ làm khô hỗn hợp để lấy chất bột, rồi làm nóng nhanh chất bột này lên 800 độ C và sau đó làm lạnh rất chậm.

Quá trình này phục hồi cấu trúc nguyên tử của vật liệu cực âm và tái bơm các ion lithium vào cực. Và chỉ sử dụng một nửa năng lượng so với quá trình thông thường. Những nhà nghiên cứu tạo ra loại pin di động mới với vật liệu cực âm tái tạo. 

Những cực âm mới này thể hiện khả năng lưu trữ năng lượng, thời gian sạc, và tuổi thọ tương tự như pin nguyên bản. Các kết quả được báo cáo lại trong tạp chí Hóa Học Xanh.

Hai công ty khác đã và đang theo đuổi một công nghệ “tái chế trực tiếp” tương tự để tái sinh lại toàn bộ cấu trúc vật liệu âm cực. Công ty pin tại San Francisco là Farasis Energy and Bend, cty khởi nghiệp công nghệ OnTo tại Oregon đang cùng phát triển công nghệ và đang cố gắng mở rộng quy mô của mình. Những quá trình tái chế của các công ty đều hơi khác lẫn nhau.

Càng nhiều người chơi trong không gian này, thì càng tốt, Linda Gaines nói, một nhà phân tích những hệ thống vận chuyển ở phòng thí nghiệm quốc gia Argonne. Thiết kế hóa học và tế bào của pin lithium-ion ngày nay đang tiến hóa nhanh chóng. “Những công nghệ tái chế trực tiếp có thể cho phép sự phục hồi của sản phẩm có giá trị cao từ công thức cục pin mới hơn”, cô nói.

Nhưng một trong những thử thách lớn nhất nó phải đối mặt là tìm những cách tốt hơn để phân tách vật liệu cực âm ra khỏi phần còn lại của pin – Chen và nhóm của ông thực hiện điều đó thủ công – và cho thấy rằng quá trình rất kinh tế trên một quy mô lớn.

Hiện nay, ông Chen hiện đang hoàn chỉnh quá trình của mình để có thể được sử dụng cho bất kỳ vật liệu pin lithium nào. Ông cũng đang trao đổi với một công ty chế biến pin của Trung Quốc quan tâm đến tiếp chấp nhận phương pháp tái chế mới này.

Theo cvdvn.net

Điều gì xảy ra khi mái nhà của thế giới tan chảy?

Băng ở các dãy núi vùng Nam Á từ lâu đã bắt đầu tan thành nước, khiến nhiều người phải đối mặt với nguy cơ xảy ra lũ lụt bất cứ lúc nào.

Đầu năm 2019, Trung tâm nghiên cứu Núi quốc tế đã công bố phân tích chi tiết về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với sông băng của dãy núi Himalaya, Hindu Kush, Karakoram và Pamir tại các quốc gia Afghanistan, Pakistan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal, Bhutan và Myanmar. Nghiên cứu cảnh báo rằng, dựa vào tốc độ nóng lên toàn cầu hiện tại, khoảng 56.000 sông băng sẽ biến mất vào năm 2100. Việc các sông băng tan chảy sẽ ảnh hưởng nặng nề tới đời sống của hơn 1,9 tỷ người sống tại Nam Á, vốn phụ thuộc nguồn nước vào các sông băng. Cùng với đó, các hoạt động dân sinh như nông nghiệp, thủy điện và du lịch trong khu vực cũng bị tác động tiêu cực do sự thay đổi lưu vực các dòng sông.

Điều gì xảy ra khi mái nhà của thế giới tan chảy?
Hồ nước hình thành từ sông băng ở Nepal.

Tuy nhiên, yếu tố nguy hiểm nhất của sông băng tan chảy chính là các hồ nước hình thành trên các sườn núi. Từ năm 1990 đến 2010, hơn 900 hồ nước mới được hình thành trên các dãy núi cao của châu Á. Theo dõi vệ tinh ảnh, các nhà khoa học đã nhận ra sự tăng số lượng đột biến của các hồ nước trên các dãy núi cao và chưa có con số thống kê chính xác về các hồ nước mới được hình thành do sông băng tan chảy.

Đánh giá về vấn đề này, nhà thám hiểm, nhà địa lý thuộc Đại học Colorado, Alton Byers cho biết: “Sự tan chảy của các sông băng đang xảy ra nhanh hơn so với dự kiến”.

Theo ông Alton Byers, Trái Đất nóng lên dẫn tới băng ở các đỉnh núi tan chảy. Chúng đầu tiên tạo thành các vũng nước nhỏ, sau đó hội tụ thành các hồ nước lớn hàng triệu m3 trên lưng chừng núi. Khi các hồ nước này vỡ, chúng tạo thành các trận lụt lớn có sức phá hoại khủng khiếp. Trận lũ lụt ở Himalaya kinh khủng nhất đã xảy ra ở vùng Khumbu của Nepal vào ngày 4-8-1985 chính là điển hình. Sau đợt tuyết lở đổ xuống sông băng Langmoche và tràn xuống hồ Dig, các làn sóng cao 4-6m đã phá vỡ con đập và giải phóng hơn 1,3 tỷ m3 nước, tương đương với 2.000 bể bơi có kích cỡ tiêu chuẩn của Olympic. Trận lụt đã tàn phá 14 cây cầu, 30 ngôi nhà và một nhà máy thủy điện và sinh mạng của rất nhiều người dân địa phương.

Từ cuối những năm 1980, các nhóm các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu thí điểm 2 hồ nước trên dãy Himalaya. Hình ảnh vệ tinh cho thấy một hồ nước mới được hình thành với tên gọi Imja đang mở rộng với tốc độ đáng kinh ngạc. Trong giai đoạn năm 2000 đến 2007, diện tích bề mặt của hồ đã tăng thêm khoảng 100m2.

Điều gì xảy ra khi mái nhà của thế giới tan chảy?
Các nhà khoa học đang tiến hành nghiên cứu tại hồ băng Taboche.

Giám đốc Viện biến đổi khí hậu tại Đại học Maine, Paul Mayewski dẫn đầu đoàn nghiên cứu sông băng tại Nepal cho biết, việc sông băng tan chảy tại địa hình dốc đã tạo ra những hồ nước nhân tạo và tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Chỉ tính riêng tại Nepal, có ít nhất 42 hồ nước tự nhiên và nhân tạo trên núi bị ảnh hưởng bởi việc các sông băng tan chảy có khả năng vỡ bất kỳ lúc nào. Nếu tính ở quy mô dãy Himalaya, con số này có thể tăng lên nhiều lần.

Để đối phó với các hồ nước trên núi cao do các sông băng tan chảy tạo ra, nhiều quốc gia đã tính tới phương án thoát dần nước để giảm sức ép và nguy cơ lũ lụt. Peru hiện là quốc gia đang có đối sách hiệu quả với việc các sông băng tan chảy. Trong vài thập kỷ qua, Peru đã mất 50% sông băng và từng trải qua các trận lụt kinh hoàng do các hồ nước trên núi cao tan vỡ. Sau trận lụt kinh hoàng từ hồ Palcacocha khiến 5.000 người thiệt mạng, hơn ⅓ thành phố Huaraz thiệt hại nặng nề, người Peru đã tìm ra cách để thoát nước từ những hồ băng có nguy cơ vỡ cao. Hàng chục hồ nước trên núi cao ở Peru đã được cải tạo thành nhà máy thủy điện hoặc hồ thủy lợi để tận dụng nguồn nước và hạn chế nguy cơ lũ lụt do chúng gây ra.

Tuy nhiên, cách xử lý tại Peru không thể áp dụng tại Nepal do sự hiểm trở của địa hình. Chuyên gia về hiểm họa địa lý người Anh, John Reynold cho biết: “Tại Peru, bạn có thể đi ô tô xung quanh các hồ nước, nhưng tại Nepal, bạn phải mất từ năm đến sáu ngày chỉ để đi bộ từ điểm này tới điểm khác của hồ nước”.

Để hạn chế nguy cơ vỡ đập, năm 2016, quân đội Nepal đã cố gắng rút cạn hồ Imja. Dù hiệu quả của phương án này cần có thời gian kiểm chứng, nhưng nó đã cho thấy nỗ lực của Chính phủ Nepal trong việc đối phó với nguy cơ thảm họa do các sông băng tan chảy.

Hiện tại, cách tốt nhất để giảm nguy cơ lũ lụt do các sông băng tan chảy nằm ở việc con người cần có những biện pháp mạnh mẽ hơn nữa trong việc bảo vệ môi trường, hạn chế hiệu ứng nhà kính và sự nóng lên toàn cầu.

Phương Thảo – Ngọc Lan